Yêu cầu bãi bỏ hôn nhân tại Texas

Bài viết này giải thích về các yêu cầu để bãi bỏ một cuộc hôn nhân.

Trong bài viết này, quý vị sẽ tìm hiểu thêm về lý do tòa án có thể bãi bỏ hôn nhân ở Texas. Một bãi bỏ khác với một ly hôn - nó đối xử với cuộc hôn nhân như thể nó chưa bao giờ xảy ra. Luật pháp Texas cho phép bãi bỏ hôn nhân trong một số trường hợp nhất định, chẳng hạn như khi một người hôn phối vị thành niên, không thể đồng ý về mặt tâm thần hoặc bị áp lực trong cuộc hôn nhân.

Bãi bỏ chứng nhận kết hôn là gì?

Bãi bỏ chứng nhận kết hôn là một thủ tục pháp lý để chấm dứt hôn nhân. Không giống như ly hôn, bãi bỏ chứng nhận kết hôn căn cứ vào cách bắt đầu cuộc hôn nhân. Ly hôn chấm dứt một cuộc hôn nhân có giá trị về mặt pháp lý. Việc bãi bỏ chứng nhận kết hôn chấm dứt một cuộc hôn nhân không có giá trị pháp lý ngay từ đầu. Bãi bỏ chứng nhận kết hôn chỉ được phán quyết trong một số sự vụ việc nhất định. Texas cho phép bãi bỏ chứng nhận kết hôn trong bảy trường hợp. Mỗi trường hợp đều có những yêu cầu cụ thể. Một số trường hợp yêu cầu rất nghiêm ngặt về giới hạn thời gian.

Bãi bỏ chứng nhận kết hôn có khác với "vụ kiện tuyên bố hôn nhân vô hiệu"?

Vụ kiện yêu cầu bãi bỏ chứng nhận kết hôn cũng khác với vụ kiện tuyên bố hôn nhân vô hiệu. Nếu vụ việc của quý vị đủ điều kiện để bãi bỏ, quý vị có thể đưa ra lựa chọn. Quý vị có thể đề nghị quan tòa tuyên bố rằng cuộc hôn nhân của quý vị đã chấm dứt, hoặc quý vị và người hôn phối của mình có thể quyết định duy trì hôn nhân. Một cuộc hôn nhân "vô hiệu" tuyệt đối không hợp lệ theo luật Texas và tuyệt đối không có khả năng trở nên hợp lệ.

Khi nào luật Texas cho phép bãi bỏ chứng nhận kết hôn?

Luật pháp Texas cho phép bãi bỏ chứng nhận kết hôn trong các trường hợp sau:

  • Người hôn phối dưới 18 tuổi.
  • Người hôn phối bị chi phối bởi rượu và ma tuý.
  • Người hôn phối bị bất lực.
  • Cuộc hôn nhân có sự lừa dối, cưỡng ép hoặc ép buộc.
  • Một người hôn phối không đủ năng lực tâm thần để đồng ý kết hôn.
  • Người hôn phối che giấu việc ly hôn của họ.
  • Việc kết hôn diễn ra chưa đầy 72 giờ sau khi hai người hôn phối nhận được giấy đăng ký kết hôn.

Bài viết này giải thích về các yêu cầu để bãi bỏ chứng nhận kết nhân dựa trên từng căn cứ sau đây.

Yêu cầu đối với tất cả các vụ bãi bỏ chứng nhận kết hôn ở Texas

Để được phán quyết bãi bỏ tại tòa án Texas, quý vị hoặc người hôn phối của quý vị phải đáp ứng một trong các tiêu chí sau:

  • Cuộc hôn nhân của quý vị diễn ra ở Texas; hoặc
  • Texas là nơi ở thường trú của một hoặc cả hai.

"Người đệ đơn" là người hôn phối nộp đơn kháng nghị xin bãi bỏ chứng nhận kết hôn. Người hôn phối còn lại được gọi là "bị đơn".

Quý vị có thể nộp đơn kháng nghị xin bãi bỏ chứng nhận kết hôn tại hạt nơi quý vị kết hôn hoặc nơi một hoặc cả hai đang sinh sống. Lệ phí nộp đơn giữa các hạt là không giống nhau. Nếu quý vị hội đủ điều kiện để được miễn lệ phí, quý vị sẽ không mất một đồng nào cả.

Các tòa án xử lý các vụ ly hôn cũng xử lý các vụ bãi bỏ chứng nhân kết hôn. Các tòa án cấp khu vực giải quyết các vụ kiện áp dụng luật gia đình ở hầu hết các hạt của Texas. Văn phòng lục sự khu vực địa phương của quý vị có thể cho quý vị biết về các yêu cầu nộp đơn cụ thể.

Sau khi nộp đơn kháng nghị xin bãi bỏ chứng nhận kết hôn, quý vị phải tống đạt các giấy tờ cho người hôn phối của mình. Một cảnh sát, cảnh sát trưởng, hoặc người tống đạt trát toà tư nhân có thể thực hiện công việc này. Người hôn phối của quý vị cũng có thể sẽ ký giấy miễn trừ tống đạt.

Người hôn phối dưới 18 tuổi.

Tòa án có thể bãi bỏ chứng nhận kết hôn khi đáp ứng tất cả các trường hợp sau:

  • Người hôn phối trên 16 tuổi nhưng chưa đầy 18 tuổi vào thời điểm kết hôn.
  • Cha mẹ của người hôn phối đó không đồng ý với cuộc hôn nhân. Họ cũng không có lệnh của tòa án cho phép kết hôn khi chưa có sự đồng ý của cha mẹ.
  • Cha mẹ, người giám hộ hoặc người được ủy quyền khác đang nộp đơn kháng nghị xin bãi bỏ chứng nhận kết hôn.
  • Người đệ đơn nộp đơn trong vòng 90 ngày kể từ ngày kết hôn.

Người hôn phối chưa đủ tuổi vị thành niên có thể tự nộp đơn kháng nghị nếu họ tròn 18 tuổi trong khoảng thời gian 90 ngày. Có thể họ sẽ không được bãi bỏ chứng nhận kết hôn sau chín mươi ngày.

Một cuộc hôn nhân trong những trường hợp này không mặc nhiên vô hiệu theo luật Texas. Quan tòa có thể quyết định có chấp nhận bãi bỏ hay không. Trong luật tiểu bang có ghi rõ rằng quan tòa nên xem xét "các dữ kiện thích đáng" về người hôn phối, "bao gồm cả việc người phụ nữ có thai hay không".

Người hôn phối bị chi phối bởi rượu và ma tuý.

Một người say rượu không thể đồng ý với nhiều hoạt động, bao gồm cả hôn nhân. Có thể bãi bỏ hôn nhân cho một người dựa trên tình trạng suy yếu do rượu hoặc ma túy. Họ phải có khả năng trình bày những điều sau đây trước tòa án:

  • Sức khỏe của họ đã quá suy yếu vào thời điểm kết hôn để có thể đồng ý.
  • Họ không cư xử như thể họ đã kết hôn do ảnh hưởng của rượu hoặc ma túy đã hết.

Điểm thứ hai vô cùng quan trọng. Quý vị phải chứng minh với tòa án rằng quý vị sẽ không bao giờ kết hôn trừ khi quý vị say rượu hoặc phê thuốc. Tòa án sẽ không cho phép bãi bỏ hôn nhân nếu quý vị đồng ý chung sống với người hôn phối sau khi tỉnh táo hoặc nếu quý vị sẵn sàng cư xử như một cặp vợ chồng.

Người hôn phối bị bất lực.

"Bất lực" có nghĩa là không có khả năng giao hợp. Tòa án có thể bãi bỏ chứng nhận kết hôn nếu người hôn phối chứng minh được những điều sau:

  • Người hôn phối bị bất lực tại thời điểm kết hôn.
  • Tình trạng bất lực là vĩnh viễn. Họ chưa trải qua đêm tân hôn và có khả năng không thể làm như vậy.
  • Người đệ đơn không biết về tình trạng bất lực khi họ kết hôn.
  • Người đệ đơn không tự nguyện chung sống với người hôn phối của mình kể từ khi biết về tình trạng bất lực.

Người đệ đơn trình bày với tòa án rằng họ sẽ không kết hôn nếu họ biết về tình trạng bất lực. Đó là lý do tại sao họ không thể chung sống sau khi phát hiện ra tình trạng bất lực.

Một trong hai người hôn phối có thể là người đệ đơn trong vụ việc bãi bỏ chứng nhận kết hôn này. Họ có thể xin bãi bỏ do tình trạng bất lực của người hôn phối hoặc của chính họ.

Cuộc hôn nhân có sự lừa dối, cưỡng ép hoặc ép buộc.

Cả hai người hôn phối phải đưa ra sự đồng ý tự nguyện và hiểu biết đối với hôn nhân. Việc "lừa dối, cưỡng ép hoặc ép buộc" có thể khiến cuộc hôn nhân không hợp lệ về mặt pháp lý. Điều này có thể liên quan đến hành động của người hôn phối, người khác hoặc một nhóm người.

  • "Lừa dối" liên quan đến việc nói dối, giữ kín hoặc che giấu thông tin quan trọng. Đó là thông tin có thể đã thay đổi quyết định kết hôn của người đệ đơn.
  • "Cưỡng ép" bao gồm đe dọa hoặc các hình thức gây áp lực khác. Điều này có thể bao gồm đe dọa bằng bạo lực. Người đệ đơn hẳn đã tin rằng họ phải kết hôn để tránh bị tổn hại.
  • "Ép buộc" có thể liên quan đến vũ lực thực sự hoặc đe dọa gây thương tích ngay lập tức.

Người đệ đơn phải chứng minh rằng họ chỉ kết hôn vì bị lừa dối, cưỡng ép hoặc ép buộc. Tòa án sẽ không cho phép bãi bỏ hôn nhân nếu người đệ đơn tự nguyện chung sống với người hôn phối của mình sau khi bắt đầu hôn nhân.

Trong một vụ việc tại tòa án Texas, người chồng đã bãi bỏ chứng nhận kết hôn do có sự lừa dối vào khoảng năm 2010. Anh cho rằng vợ anh đã trình bày sai ý định của cô ấy. Cô nói với anh rằng cô yêu anh và muốn kết hôn, sinh con. Sau khi kết hôn, cô nộp đơn xin trợ cấp di trú với tư cách là vợ của một công dân Hoa Kỳ. Cô nhận được thẻ xanh và sau đó đệ đơn ly hôn. Thay vào đó, người chồng lại xin bãi bỏ chứng nhận kết hôn. Tòa án đã đồng ý với người chồng rằng người vợ đã trình bày sai sự thật quan trọng.

Một người hôn phối không đủ năng lực tâm thần để đồng ý kết hôn.

Một người phải có năng lực pháp lý để đồng ý kết hôn vào thời điểm kết hôn. Một người có thể bị bãi bỏ chứng nhận kết hôn nếu họ không đủ tỉnh táo để đồng ý. Say rượu chỉ là một ví dụ về tình trạng một người không thể đồng ý với một điều gì đó giống như hôn nhân. Texas cho phép bãi bỏ chứng nhận kết hôn khi một người không có năng lực tâm thần:

  • Để đồng ý kết hôn; hoặc
  • Để hiểu ý nghĩa của lễ thành hôn.

Một người không thể đồng ý kết hôn khi bị:

  • Chấn thương sọ não
  • Thiểu năng trí tuệ nghiêm trọng
  • Bệnh tâm thần nặng
  • Dư chấn sau đột quỵ
  • Bệnh Alzheimer hoặc các dạng sa sút trí tuệ khác

Trong một số trường hợp, một người có thể không thể đồng ý vào thời điểm kết hôn do tình trạng bệnh lý tạm thời. Người đó có thể tự nộp đơn kháng nghị bãi bỏ chứng nhận kết hôn sau khi đã hồi phục. Tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp, một người không có năng lực tâm thần để đồng ý kết hôn cũng không có năng lực khởi kiện. Một người khác, chẳng hạn như người giám hộ do tòa án chỉ định, phải nộp đơn kháng nghị thay cho họ.

Người hôn phối còn lại cũng có thể nộp đơn kháng nghị để bãi bỏ chứng nhận kết hôn. Họ phải chứng minh được rằng:

  • Họ không biết về tình trạng mất năng lực vào thời điểm kết hôn; và
  • Họ không sống với người hôn phối của mình kể từ khi biết về điều đó.

Người có người giám hộ do tòa án chỉ định có thể kết hôn nếu được người giám hộ đồng ý. Một ví dụ gần đây về việc bãi bỏ chứng nhận kết hôn do thiếu năng lực tâm thần liên quan đến một người đang được người giám hộ chăm sóc. Vụ việc này không phức tạp. Tòa án chỉ định người giám hộ đã ra phán quyết vào đầu năm 2019 rằng người đó không có khả năng tự chăm sóc bản thân hoặc đồng ý kết hôn. Nếu không có hiểu biết hay đồng ý của người giám hộ, anh ta đã kết hôn vài tuần sau đó. Người giám hộ đã đệ đơn bãi bỏ chứng nhận kết hôn và tòa án đã chấp thuận.

Người hôn phối che giấu việc ly hôn của họ.

Người hôn phối có thể được bãi bỏ chứng nhận kết hôn nếu đáp ứng các điều kiện sau:

  • Người hôn phối của họ ly hôn với người thứ ba chưa đầy 30 ngày trước khi kết hôn với người đệ đơn.
  • Người đệ đơn không biết về vụ việc ly hôn trước đó khi họ kết hôn.
  • Bị đơn đã cố gắng che giấu vụ việc ly hôn trước đó.
  • Người đệ đơn không chung sống với bị đơn kể từ khi biết về vụ việc ly hôn.
  • Người đệ đơn nộp đơn kiện trong vòng một năm sau khi kết hôn.

Cơ sở bãi bỏ chứng nhận kết hôn này tương tự cơ sở dựa trên hành vi lừa dối, nhưng có một số điểm khác biệt quan trọng. Cơ sở này chỉ áp dụng cho vụ ly hôn được che giấu ngay trước khi kết hôn. Cơ sở này không áp dụng sau một năm kết hôn. Nếu một người biết rằng người hôn phối của họ đã che giấu kiểu ly hôn này với họ hơn một năm sau ngày cưới thì họ không được phán quyết bãi bỏ chứng nhận kết hôn theo kiểu này. Tuy nhiên, họ vẫn có thể yêu cầu bãi bỏ chứng nhận kết hôn dựa trên hành vi lừa dối.

A 2009 Quyết định của tòa án Texas xử lý hai loại bãi bỏ hôn nhân. Một người chồng đã được bãi bỏ chứng nhận kết hôn dựa trên hành vi lừa dối sau khi biết rằng vợ mình đã che giấu năm cuộc hôn nhân và ly hôn trước đó. Người vợ lập luận rằng nên áp dụng thời hạn một năm cho vụ ly hôn bị che giấu. Tòa án không đồng ý. Tòa nhận thấy rằng việc che giấu nhiều vụ ly hôn là đủ nghiêm trọng để đáp ứng các yêu cầu bãi bỏ chứng nhận kết hôn dựa trên hành vi lừa dối.

Việc kết hôn diễn ra chưa đầy 72 giờ sau khi hai người hôn phối nhận được giấy đăng ký kết hôn.

Luật Texas yêu cầu hầu hết mọi người phải đợi 72 giờ sau khi nhận được giấy đăng ký kết hôn mới được kết hôn. Yêu cầu này bao gồm các ngoại lệ sau:

  • Quân nhân đang tại ngũ của Lực lượng Vũ trang Hoa Kỳ
  • Nhân viên và nhà thầu dân sự của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ
  • Những người nhận được lệnh của tòa án miễn thời gian chờ trong 72 giờ
  • Những người hoàn thành "khóa học giáo dục tiền hôn nhân" được tiểu bang công nhận

Nếu lễ thành hôn diễn ra trong khoảng thời gian 72 giờ đó và cả hai người hôn phối đều không thuộc bất kỳ nhóm nào ở trên thì một trong hai người có thể đệ đơn kháng nghị bãi bỏ chứng nhận kết hôn. Họ phải nộp đơn kháng nghị trong vòng 30 ngày kể từ ngày kết hôn.


Source URL: https://texaslawhelp.org/article/requirements-for-annulments-in-texas